Những thông tin cần biết

* LỊCH PHỤC VỤ:
Từ thứ hai đến chủ nhật
​(Trừ các ngày lễ, tết theo quy định)

* GIỜ MỞ CỬA
: Mùa hè
Sáng: 7h00" - 11h30
Chiều: 13h30 - 17h00"
Từ thứ 2 đến thứ 6, phòng Mượn và phòng Thiếu nhi phục vụ thêm 60" ngoài giờ hành chính vào các buổi chiều.
* THỦ TỤC CẤP THẺ:[Chi tiết]

 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay22 
 Hôm qua1725
 Tuần này1747 
 Tất cả583566 
IP: 3.236.108.61
 

Đất và người Hải Dương
Đoàn Nhữ Hài (1280 - 1336)
(Cập nhật: 31/08/2018)
Chia sẻ
 

                                                   ĐOÀN NHỮ HÀI

                                                        (1280 - 1336)

Danh thần đời Trần Anh Tông, quê làng Trường Tân, huyện Gia Phúc, Hải Dương (nay là xã Gia Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương).

Từ bé ông nổi tiếng ham học, lớn lên học ở kinh sư, có lần Thượng hoàng Nhân Tông từ Thiên Trường về kinh, bất chợt đi xem các cung điện mà vua còn say rượu nằm ngủ không biết. Thượng hoàng giận lắm, lập tức về Thiên Trường, xuống chiếu cho các quan ngày mai phải đủ mặt cả ở Thiên Trường. Vua Anh Tông tỉnh dậy sợ quá, đi qua chùa Tư Phúc định khấn phật cứu nạn. Bỗng gặp nho sinh Đoàn Nhữ Hài bèn bảo “Ta vì quá chén đắc tội với Thượng hoàng, người hãy thảo cho ta một tờ biểu tạ lỗi”.

Ông vâng lời làm ngay. Vua Anh Tông đem ông theo xuống thuyền đang đêm về Thiên Trường dâng biểu tạ lỗi. Đến nơi ông qùy dâng sớ. Thượng hoàng hỏi: “Ai đấy”, quan hầu tâu: “Là người dâng biểu của quan gia”. Thượng hoàng không nói gì. Tới chiều mưa gió to, ông vẫn quỳ. Thượng hoàng hỏi: “Người ngoài sân còn đấy không?”. Rồi lấy tờ biểu vào xem, thấy lời lẽ khẩn khoản, thống thiết bèn gọi vua vào bảo: “Trẫm còn có con khác, cũng có thể nối ngôi, Trẫm còn sống mà còn thế, về sau thế nào?” Vua Anh Tông cúi đầu tạ lỗi. Thượng hoàng hỏi: “Người soạn biểu là ai?”, Vua thưa: “Là học trò, tên Đoàn Nhữ Hài”. Thượng hoàng cho gọi ông vào và bảo: “Mày soạn biểu hợp ý trẫm lắm”, rồi xuống chiếu cho vua về ngôi. Do đấy ông được vua Anh Tông phong làm Trung Tán lúc ông 20 tuổi.

Năm 1312, ông đi sứ sang Chiêm Thành, trước khi đi ông vào yết kiến Thượng hoàng ở chùa Sùng Nghiêm. Thượng hoàng cùng ông nói chuyện đến quá buổi mà không biết, bảo Tả hữu rằng: “Nhữ Hài là học trò giỏi, đáng được quan gia sai khiến”.

Thông lệ sứ ta phải lạy vua Chiêm rồi mới mở tờ chiếu, nhưng ông đã thay đổi lệ ấy. Khi ông đến, đi thẳng tới án đặt tờ chiếu lên rồi nói với vua Chiêm rằng: “Tôi từ lúc mang tờ chiếu của vua nước tôi đến đây, xa vua nước tôi đã lâu. Ngày nay mở tờ chiếu như được trông thấy mặt vua nước tôi, hãy lạy tờ chiếu rồi sẽ tuyên đọc”. Sau này sứ ta không lạy vua Chiêm, chính do ông mở lối. Ông càng được trọng dụng, phong làm Tham Tri chính sự.

Năm Hưng Long thứ 12 (1304) ông coi việc khu mật. Năm thứ 15 đổi hai châu: Ô, Lý làm Châu Thuận, Hoá, ông vâng mệnh vua tới đây vỗ yên dân hai châu đó, chọn người làm quan, cấp ruộng đất, xá tô thuế trong ba năm, yên định được dân.

Năm thứ 20, ông theo vua đi đánh Chiêm Thành, làm chức dụ sứ của Thiên Tử. Ông ước hẹn với trại chủ Câu Chiêm dụ chúa Chiêm quy hàng, không mất một mũi tên mà bình được Chiêm Thành, là sức, trí của ông cả. Mùa thu, tháng 9 năm 1335, Thượng hoàng  đi đánh Ai Lao. Bấy giờ Đoàn Nhữ Hài chỉ huy quân Thần vũ và Thần sách, kiêm chức kinh lược đại sứ Nghệ An, cho nên Thượng hoàng lấy ông làm đốc tướng, ba quân đều dưới sự chỉ huy của ông. Đoàn Nhữ Hài tiến đánh, đoán chừng Ai Lao giữ đất nam Nhung, quân ít và yếu vả lại trại giặc sát sông Tiết La, sau khi thắng trận sẽ thừa thế theo dòng xuôi xuống đi qua Chân Lạp và phiên quốc khác thì uy danh lừng lẫy, nhân đó dụ con em họ vào chầu. Lúc giao chiến, mây mù tối om, quân Ai Lao đã phục voi ngựa hai mặt giáp công, quan quân thua trận. Đoàn  Nhữ Hài hy sinh anh dũng. Vua Anh Tông nghe tin đó thương tiếc bảo rằng: “Nhữ Hài dùng mưu tất thắng, muốn thừa thế đó, không ngờ công sắp thành lại làm mồi cho giặc. Không phải là Hài không biết liệu địch chỉ vì làm cái việc quá to tát mới đến nỗi thế. Thế mới biết người ta mong mỏi việc gì, không nên vượt quá giới hạn cuả mình”. Cho làm lễ tế ông ở đầu sông Lam. Sau khi ông mất, vua Trần phong ông là Thượng đẳng phúc thần và ban cho 84 xã ở huyện Gia Phúc và Gia Lâm lập đền thờ.



 
Các bài liên quan
Quảng trường Độc Lập (thành phố Hải Dương), nơi tổ chức mít tinh giành chính quyền ở thành phố Hải Dương năm 1945 và tuyên bố giải phóng thị xã Hải Dương năm 1954 (16/08/2018)
Chu Văn An (01/08/2018)
Chùa Quang Khánh (13/07/2018)
Nguyễn Trãi (1380 - 1442) (02/07/2018)
Đình Thuý Lâm và Cây Vải Tổ (15/06/2018)
 
Quay lạiXem tiếp   
 
Liên kết Website